CHÀO NGÀY MỚI

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Tài nguyên dạy học

KHÁCH QUÝ VÀO NHÀ

1 khách và 0 thành viên

TRÀ THƠM ĐÃI KHÁCH

THỜI TIẾT HÔM NAY

Thủ đô Hà Nội

Cố đô Huế

TP Hồ Chí Minh

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    3_Earthquake_in_San_Fransisco.flv 4_Son_nguyen_Etiopia.flv 5_Sahara_va_Namibia__cac_dang_dia_hinh_phong_thanh_.flv Top_5_co_may_thu_hoach_nong_san_so_1_tren_the_gioi2017.flv Cach_mang_Cong_Nghiep_Chau_Au.flv Dong_dat_song_than_Nhat_Ban_1132011.flv Suc_nong_khung_khiep_cua_dung_nham_nui_lua.flv Dong_dat_va_song_than_tan_pha_Nhat_Ban.flv Vi_sao_co_nam_nhuan3.flv Video_dong_dat_manh_rung_chuyen_Nhat_Ban___The_gioi___Dan_tri.flv Nui_lua3.flv Hien_Tuong_Mua_Khoa_Hoc.flv Lam_nha_bang_cua__nguoi__Inuc_1.flv Clip_o_nhiem_moi_truong.flv Chuyen_dong_cua_Trai_dat_quanh_Mat_troi.flv Loan_phu.swf Chau_Nam_cuc.flv Mua_da_kinh_khung_khiep__YouTube.flv

    ĐIỂM TIN

    NGƯỜI GIEO HẠT

    KÍNH CHÚC QUÝ VỊ CÙNG CÁC BẠN MỘT NGÀY MỚI TỐT LÀNH VÀ LÀM VIỆC HIỆU QUẢ

    Ca dao và lịch sử những ngôi chùa ở VN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: ST
    Người gửi: Đỗ Thị Hồng Phương (trang riêng)
    Ngày gửi: 11h:14' 17-09-2013
    Dung lượng: 387.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Ca dao về những ngôi chùa

    Các ngôi chùa ở Việt Nam không đồ sộ nguy nga như các chùa ở Ấn Độ, Trung Hoa, Thái Lan và Cao Miên; nhưng rải rác đó đây, đâu đâu cũng có chùa. Từ những thảo am trong thôn xóm hẻo lánh đến những ngôi chùa kiến trúc bằng những vật liệu kiên cố tại các đô thị, tất cả đều mang sắc thái gọn nhẹ, thanh thoát và tịch mịch. Thiên nhiên đã tô điểm cho cảnh chùa và ngược lại chùa chiền cũng làm tôn vẻ đẹp của thiên nhiên.

    Chùa ở Việt Nam không chỉ là chỗ tôn nghiêm thờ phượng để bổn đạo đến lễ Phật mà còn là nơi tụ họp của dân chúng vào những dịp lễ như hành hương, rước đảo vũ, chay đàn, đổ giàn..., thậm chí cả những cuộc vui chơi như bài chòi, hát bội cũng có khi tổ chức tại sân chùa. Dân chúng đến đình làng phải khép nép vì sợ có sự phân biệt rõ ràng giữa thứ dân với hào mục, ngay cả trong hàng quan lại về làng cũng phân biệt nhau theo học vị và phẩm trật. Lệ làng, kẻ có chức tước bao giờ cũng được ăn trên ngồi trốc. Trái lại, cửa thiền luôn luôn rộng mở, chúng sinh được bình đẳng an vui, vì vậy chùa chiền rất gần gũi với dân chúng. Qua ca dao, dân làng bày tỏ tình cảm quyến luyến với chùa chiền:
    Dù ai buôn đâu bán đâu,
    Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
    Dù ai buôn bán trăm nghề,
    Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
    và cảm thấy mất mát khi xa cách:
    Vì ai nên nỗi sầu này
    Chùa Tiên vắng vẻ, tớ thầy xa nhau.
     
    Chùa Dâu


    Chùa ở Bắc Ninh 
    Ngôi chùa xưa nhất và cũng là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam có từ thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch (thời Sĩ Nhiếp) là chùa Dâu. Chùa được dựng gần nha môn Sĩ Vương, nơi có thành Luy Lâu là thủ phủ của xứ Giao Chỉ (đời Đông Hán) sau đổi là Giao Châu (đời Tam Quốc). Nay chùa thuộc làng Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội chừng 30 km.
    Chùa Dâu tên chữ là Thiền Định tự (thời Lý Trần) hay Diên Ứng và Pháp Vân, vì trong chùa có thờ tượng bà Pháp Vân, vị thần nổi tiếng cầu mưa rất linh ứng, là một trong Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Tuy chùa có nhiều tên chữ, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên nôm là chùa Dâu. Có sách cho rằng đó là do tượng bà Man Nương, người sáng lập ngôi chùa này, được tạc bằng gỗ dâu. Sách khác viết rằng vì trước mặt chùa có sông Dâu cũng như tọa lạc trên làng Dâu nên tên chùa được gọi theo đấy.
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư và các tài liệu khác, chùa Dâu được xây cất lại và được trùng tu nhiều lần. Năm Tân Tị (1161) đời Lý Anh Tông (1138-1175), chùa Dâu được xây cất lại. Đến cuối thế kỷ 13, Mạc Đỉnh Chi (1280-1350) sửa sang và dựng tháp 9 tầng, xây cầu 9 nhịp. Tháp cao đến nỗi: “Dù ai buôn đâu bán đâu, hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”. Ngày nay, tháp chỉ còn có 3 tầng, nhờ tấm bia bằng đá xanh dựng nơi chân tháp, người ta mới biết được tháp này có tên là Hòa Phong, tái thiết vào năm Mậu Ngọ (1738) đời Lê Ý Tông (1735-1740) do Thiền sư Tính Mộ và đệ tử xây dựng trên nền tháp cũ đã đổ nát và chùa cũng được sửa chữa vào dịp này. Đến năm 1917, chùa được trùng tu một lần nữa.
    Hằng năm, hội Dâu mở vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Lễ hội có những đám rước rất lớn, cờ lọng rợp trời, kèn chiêng trống tưng bừng. Theo Chùa xưa tích cũ của Nguyễn Bá Lăng, dân chúng 11 xã trong tổng Khương Tự tham gia lễ hội từ mồng 8 đến mồng 10. Đầu tiên là đám rước Sĩ Nhiếp cùng vương nữ là Ngọc Tiên công chúa đến chùa Dâu làm lễ, xong rước về bản đền ở làng Lũng Khê. Cũng trong ngày mồng 8, ba đám rước cùng lúc các tượng Pháp Vũ ở chùa Thành Đạo làng Đông Cốc, tượng Pháp Lôi ở chùa Phi Tương làng Thanh Tương, và tượng Pháp Diện ở chùa Trí Quả làng Phương Quan đến chùa Dâu, hội cùng với tượng Pháp Vân. Sau đó rước cả 4 vị đến chùa Mãn Xá bên kia sông Dâu, làm lễ kính yết bà Man Nương. Xong, rước 4 tượng về lại chùa Dâu nghỉ đêm. Sáng mồng 9, lại rước Tứ Pháp đến đền Sĩ Nhiếp làm lễ, sau đó rước đi trình diễn khắp tổng, chiều tối lại rước về nghỉ ở chùa Dâu. Ngày mồng 10, rước 3 tượng
     
    Gửi ý kiến

    THƯ GIÃN CUỐI NGÀY

    NGƯỜI GIEO HẠT

    CHÂN THÀNH CẢM ƠN QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐÃ THAM GIA GIAO LƯU, CHIA SẺ VÀ ĐÓNG GÓP Ý KIẾN. HẸN GẶP LẠI